Tỷ lệ và yếu tố nguy cơ trong TSG

Preeclampsia Syndrome Hội chứng tiền sản giật
Young and nulliparous women are particularly vulnerable to developing preeclampsia, whereas older women are at greater risk for chronic hypertension with superimposed preeclampsia. The incidence is markedly influenced by race and ethnicity—and thus by genetic predisposition. By way of example, in nearly 2400 nulliparas enrolled in a Maternal-Fetal Medicine Units (MFMU) Network study, the incidence of preeclampsia was 5 percent in white, 9 percent in Hispanic, and 11 percent in AfricanAmerican women (Myatt, 2012a,b). Phụ nữ trẻ và chưa có con đặc biệt dễ bị tiền sản giật phát triển, trong khi phụ nữ lớn tuổi có nguy cơ cao huyết áp mãn tính với tiền sản giật chồng. Tỷ lệ bị ảnh hưởng rõ rệt bởi chủng tộc và dân tộc và do đó bởi yếu tố di truyền. Bằng cách thử nghiệm, trong gần 2.400 sản phụ chưa có con ghi danh trong một nghiên cứu mạng của Maternal-Fetal Medicine Units (MFMU), tỷ lệ mắc tiền sản giật là 5 phần trăm ở người da trắng, 9 phần trăm ở Tây Ban Nha, và 11 phần trăm ở phụ nữ Mỹ gốc Phi (Myatt, 2012a, b) .
Other factors include environmental, socioeconomic, and even seasonal influences (Lawlor, 2005; Palmer, 1999; Spencer, 2009). With consideration for these vicissitudes, in several worldwide studies reviewed by Staff and coworkers (2014), the incidence of preeclampsia in nulliparous populations ranged from 3 to 10 percent. The incidence of preeclampsia in multiparas is also variable but is less than that for nulliparas. Specifically, population studies from Australia, Canada, Denmark, Norway, Scotland, Sweden, and Massachusetts indicate an incidence of 1.4 to 4 percent (Roberts, 2011). Các yếu tố khác bao gồm ảnh hưởng môi trường, kinh tế xã hội, và thậm chí theo mùa (Lawlor, 2005; Palmer, 1999; Spencer, 2009). Với việc xem xét cho những thăng trầm, trong một số nghiên cứu trên toàn thế giới xem xét bởi Staff và đồng nghiệp (2014), tỷ lệ mắc tiền sản giật trong quần thể chưa sinh đẻ dao động 3-10 phần trăm. Tỷ lệ tiền sản giật ở người con dạ là biến đổi nhưng ít hơn so với người con so. Cụ thể, nghiên cứu dân số đến từ Úc, Canada, Đan Mạch, Na Uy, Scotland, Thụy Điển, và Massachusetts cho thấy một tỷ lệ 1,4-4 phần trăm (Roberts, 2011).
There are several other risk factors associated with preeclampsia. These include obesity, multifetal gestation, maternal age, hyperhomocysteinemia, and metabolic syndrome (Conde-Agudelo, 2000; Scholten, 2013; Walker, 2000). The relationship between maternal weight and the risk of preeclampsia is progressive. It increases from 4.3 percent for women with a body mass index (BMI) < 20 kg/m2 to 13.3 percent in those with a BMI > 35 kg/m2 (Fig. 48-5, p. 966). In women with a twin gestation compared with those with singletons, the incidence of gestational hypertension—13 versus 6 percent, and the incidence of preeclampsia—13 versus 5 percent, are both significantly increased (Sibai, 2000). It is interesting that this latter incidence is unrelated to zygosity (Maxwell, 2001). Có một số yếu tố nguy cơ khác liên quan đến tiền sản giật. Chúng bao gồm béo phì,, tuổi của người mẹ, tăng homocysteine máu, và hội chứng chuyển hóa (Conde-Agudelo, 2000; Scholten, 2013; Walker, 2000). Mối quan hệ giữa trọng lượng của mẹ và nguy cơ tiền sản giật là tỷ lệ thuận. Nó làm tăng từ 4,3 phần trăm cho những phụ nữ có chỉ số khối cơ thể (BMI) <20 kg / m2 đến 13,3 phần trăm trong những người có chỉ số BMI> 35 kg / m2 (Hình. 48-5, p. 966). Ở phụ nữ có thai sinh đôi so với những người độc thân, tỷ lệ mắc bệnh cao huyết áp-13 so với 6 phần trăm, và tỷ lệ tiền sản giật-13 so với 5 phần trăm, đều tăng lên đáng kể (Sibai, 2000). Điều thú vị là tỷ lệ sau đây là không liên quan đến tình trạng tiếp hợp giao tử (Maxwell, 2001).
Although smoking during pregnancy causes various adverse pregnancy outcomes, ironically, it has consistently been associated with a reduced risk for hypertension during pregnancy (Bainbridge, 2005; Zhang, 1999). Kraus and associates (2013) posit that this is because smoking upregulates placental adrenomedullin expression, which regulates volume homeostasis. Mặc dù hút thuốc khi mang thai gây ra kết cục thai kỳ tác dụng phụ khác nhau, trớ trêu thay, nó đã liên tục được liên kết với một giảm nguy cơ tăng huyết áp trong thai kỳ (Bainbridge, 2005; Zhang, 1999). Kraus và các cộng sự (2013) thừa nhận rằng điều này là do hút thuốc không hiệu chỉnh biểu adrenomedullin nhau thai, trong đó quy định khối lượng cân bằng nội môi.
Women with preeclampsia in the first pregnancy are at greater risk in a second pregnancy compared with women normotensive during their first pregnancy (McDonald, 2009). And conversely, in the woman who was normotensive during her first pregnancy, the incidence of preeclampsia in a subsequent pregnancy is much lower than for a first pregnancy. In a population-based retrospective cohort analysis, Getahun and colleagues (2007) studied almost 137,000 second pregnancies in such women. The incidence for preeclampsia in secundigravida white women was 1.8 percent compared with 3 percent in African-American women Phụ nữ bị tiền sản giật trong thai kỳ đầu tiên có nguy cơ trong thai kỳ thứ hai, so với những phụ nữ huyết áp bình thường trong quá trình mang thai đầu tiên của họ (McDonald, 2009). Và ngược lại, ở người phụ nữ là huyết áp bình thường trong quá trình mang thai đầu tiên của cô, tỷ lệ mắc tiền sản giật ở lần mang thai tiếp theo là thấp hơn nhiều so với một thai kỳ đầu tiên. Trong một phân tích đoàn hệ hồi cứu dựa vào dân số, Getahun và các cộng sự (2007) đã nghiên cứu gần 137.000 thai thứ hai ở phụ nữ như vậy. Tỷ lệ tiền sản giật ở phụ nữ da trắng secundigravida là 1,8 phần trăm so với 3 phần trăm ở phụ nữ Mỹ gốc Phi
Eclampsia

Presumably because it is somewhat preventable by adequate prenatal care, the incidence of eclampsia has decreased over the years in areas where health care is more readily available. In countries with adequate resources, its incidence averages 1 in 2000 deliveries. Ventura and associates (2000) estimated that the incidence in the United States in 1998 was 1 in 3250 births. According to the Royal College of Obstetricians and Gynaecologists (2006), it approximates 1 in 2000 in the United Kingdom. Akkawi and coworkers (2009) reported it to be 1 in 2500 in Dublin, Andersgaard and associates (2006) as 1 per 2000 for Scandinavia, and Zwart and colleagues (2008) as 1 per 1600 for The Netherlands.

Sản giật

Có lẽ vì nó là phần nào có thể ngăn ngừa bằng cách chăm sóc trước khi sinh đầy đủ, tỷ lệ sản giật đã giảm trong những năm qua tại các khu vực chăm sóc sức khỏe là dễ dàng hơn có sẵn. Ở những nước có nguồn lực đầy đủ, tỷ lệ trung bình là 1 trong 2000 sanh. Ventura và cộng sự (2000) ước tính rằng tỷ lệ tại Hoa Kỳ vào năm 1998 là 1 trong 3250 ca sinh. Theo Cao đẳng Hoàng gia về sản phụ khoa (2006), nó xấp xỉ 1 trong 2000 tại Vương quốc Anh. Akkawi và cộng sự (2009) cho nó là 1 trong 2500 tại Dublin, Andersgaard và cộng sự (2006) là 1 cho mỗi 2000 cho Scandinavia, và Zwart và các cộng sự (2008) là 1 cho mỗi 1600 cho Hà Lan.