Thuật ngữ và chẩn đoán TSG

TERMINOLOGY AND DIAGNOSIS

In this country for the past two decades, pregnancy hypertension was considered using the terminology and classification promulgated by the Working Group of the National High Blood Pressure Education Program—NHBPEP (2000). To update these, a Task Force was appointed by President James Martin for the American College of Obstetricians and Gynecologists (2013b) to provide evidence-based recommendations for clinical practice. The basic classification was retained, as it describes four types of hypertensive disease: Ở đất nước này trong hai thập kỷ qua, tăng huyết áp thai kỳ được xem là sử dụng các thuật ngữ và phân loại bởi các Nhóm công tác của Quốc cao huyết áp Chương trình Giáo dục-NHBPEP (2000) ban hành. Để cập nhật này, một Ủy Ban được bổ nhiệm bởi Tổng thống James Martin cho American College sản phụ khoa (2013b) để cung cấp các khuyến nghị dựa trên bằng chứng cho thực hành lâm sàng. Việc phân loại cơ bản được giữ lại, vì nó mô tả bốn loại bệnh tăng huyết áp:
1. Gestational hypertension—evidence for the preeclampsia syndrome does not develop and hypertension resolves by 12 weeks postpartum
2. Preeclampsia and eclampsia syndrome
3. Chronic hypertension ofany etiology
4. Preeclampsia superimposed on chronic hypertension.
1. Tăng huyết áp thai kỳ- nghĩa là hội chứng tiền sản giật không phát triển và tăng huyết áp duy trì đến 12 tuần sau khi sinh
2. Tiền sản giật và hội chứng tiền sản giật
3. Cao huyết áp mãn tính do bất kỳ nguyên nhân
4. Tiền sản giật kèm theo cao huyết áp mãn tính.
Importantly, this classification differentiates the preeclampsia syndrome from other hypertensive disorders because it is potentially more ominous. This concept aids interpretation of studies that address the etiology, pathogenesis, and clinical management of pregnancy-related hypertensive disorders Quan trọng hơn, việc phân loại này phân biệt hội chứng tiền sản giật khác với cao huyết áp vì nó có tiềm năng đáng ngại hơn. Điều này giải thích khái niệm hỗ trợ các nghiên cứu nhằm giải quyết các nguyên nhân, bệnh sinh, và quản lý lâm sàng của rối loạn tăng huyết áp thai kỳ liên quan

Diagnosis of Hypertensive Disorders

Chẩn đoán các rối loạn cao huyết áp

Hypertension is diagnosed empirically when appropriately taken blood pressure exceeds 140 mm Hg systolic or 90 mm Hg diastolic. Korotkoff phase V is used to define diastolic pressure. Previously, incremental increases of 30 mm Hg systolic or 15 mm Hg diastolic from midpregnancy blood pressure values had also been used as diagnostic criteria, even when absolute values were < 140/90 mm Hg. These incremental changes are no longer recommended criteria because evidence shows that such women are not likely to experience increased adverse pregnancy outcomes (Levine, 2000; North, 1999). Tăng huyết áp được chẩn đoán theo kinh nghiệm khi thực hiện một cách thích hợp huyết áp vượt quá 140 mm Hg huyết áp tâm thu hoặc 90 mm Hg huyết áp tâm trương. Korotkoff giai đoạn V được sử dụng để xác định huyết áp tâm trương. Trước đây, số tăng thêm 30 mm Hg huyết áp tâm thu và 15 mmHg tâm trương từ các giá trị midpregnancy huyết áp cũng đã được sử dụng như là tiêu chuẩn chẩn đoán, ngay cả khi giá trị tuyệt đối là <140/90 mm Hg. Những thay đổi gia tăng không còn tiêu chí khuyến khích bởi vì bằng chứng cho thấy rằng những phụ nữ này không có khả năng để trải nghiệm tăng kết cục thai kỳ bất lợi (Levine, 2000; Bắc, 1999).
 That said, women who have a rise in pressure of 30 mm Hg systolic or 15 mm Hg diastolic should be observed more closely because eclamptic seizures develop in some of these women whose blood pressures have stayed < 140/90 mm Hg (Alexander, 2006). A sudden rise in mean arterial pressure later in pregnancy—also known as “delta hypertension”—may also signify preeclampsia even ifblood pressure is < 140/90 mm Hg (Macdonald-Wallis, 2012; Vollaard, 2007).  Điều đó nói rằng, những người phụ nữ có một sự gia tăng áp lực của 30 mm Hg huyết áp tâm thu và 15 mmHg tâm trương nên được theo dõi chặt chẽ hơn vì cơn động kinh co giật phát triển ở một số phụ nữ có huyết áp đã ở lại <140/90 mm Hg (Alexander, 2006) . Một sự gia tăng đột ngột áp lực động mạch trung bình sau này trong thai kỳ còn được gọi là “tăng huyết áp đồng bằng” cũng có thể biểu tiền sản giật thậm chí khi HA là <140/90 mm Hg (Macdonald-Wallis, 2012; Vollaard, 2007).

Concept of “Delta Hypertension”

 Khái niệm về ” Tăng huyết áp Delta”

 The systolic and diastolic blood pressure levels of 140/90 mm Hg have been arbitrarily used since the 1950s to define “hypertension” in nonpregnant individuals. As discussed in detail in Chapter 50 (p. 1000), these levels were selected by insurance companies for a group of middle-aged men. It seems more realistic to define normal-range blood pressures that fall between an upper and lower limit for blood pressure measurements for a particular population—such as young, healthy, pregnant women.  Mức huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương 140/90 mm Hg đã được tùy tiện sử dụng từ những năm 1950 để xác định “tăng huyết áp” ở người không mang thai. Như đã thảo luận chi tiết trong Chương 50 (p. 1000), các mức đã được lựa chọn bởi các công ty bảo hiểm cho một nhóm người đàn ông trung niên. Nó có vẻ thực tế hơn để xác định huyết áp bình thường tầm rơi giữa một giới hạn trên và dưới cho phép đo huyết áp cho một cụ thể dân số như trẻ, khỏe, phụ nữ mang thai.
 A schematic example is shown in Figure 40-1 using arbitrary blood pressure readings. Data curves for both women show blood pressure measurements near the 25th percentile until 32 weeks. These begin to rise in patient B, who by term has substantively increased blood pressures. However, her pressures are still < 140/90 mm Hg, and thus she is considered to be “normotensive.” We termed this rather acute increase in blood pressure as “delta hypertension.” As discussed later, some of these women will develop eclamptic seizures or HELLP (hemolysis, elevated liver enzyme levels, low platelet count) syndrome while still normotensive.  Một ví dụ sơ đồ được thể hiện trong hình 40-1 sử dụng chỉ số huyết áp tùy ý. đường cong dữ liệu cho cả phụ nữ cho thấy đo áp suất máu gần vị 25 cho đến 32 tuần. Những bắt đầu tăng lên ở bệnh nhân B, những người do hạn đã cơ bản có tăng huyết áp. Tuy nhiên, áp lực của cô vẫn là <140/90 mm Hg, và do đó, cô được coi là “huyết áp bình thường.” Chúng tôi gọi là tăng chứ không phải cấp tính này huyết áp là “tăng huyết áp đồng bằng.” Như đã thảo luận sau đó, một số phụ nữ sẽ phát triển sản giật co giật hoặc HELLP (tán huyết, tăng men gan, giảm tiểu cầu thấp) Hội chứng trong khi vẫn còn huyết áp bình thường.
 FIGURE 40-1 Schematic shows normal reference ranges for blood pressure changes across pregnancy. Patient A (blue) has blood pressures near the 20th percentile throughout pregnancy. Patient B (red) has a similar pattern with pressures at about the 25th percentile until about 36 weeks when blood pressure begins to increase. By term, it is substantively higher and in the 75th percentile, but she is still considered “normotensive.”  Hình 40-1 Sơ đồ cho thấy phạm vi tham khảo bình thường đối với những thay đổi huyết áp trên thai. Bệnh nhân A (màu xanh) có áp suất máu gần các phân vị thứ 20 trong suốt thai kỳ. Bệnh nhân B (màu đỏ) có một mô hình tương tự với các áp lực vào khoảng thứ 25 cho đến khoảng 36 tuần khi huyết áp bắt đầu tăng. Bằng cách hạn, nó là cơ bản có cao hơn và trong percentile thứ 75, nhưng cô vẫn được coi là “huyết áp bình thường.”

Gestational Hypertension

 Tăng huyết áp trong thai kỳ

 This diagnosis is made in women whose blood pressures reach 140/90 mm Hg or greater for the first time after midpregnancy, but in whom proteinuria is not identified (Table 40-1 ). Almost half of these women subsequently develop preeclampsia syndrome, which includes findings such as headaches or epigastric pain, proteinuria, and thrombocytopenia. Even so, when blood pressure increases appreciably, it is dangerous to both mother and fetus to ignore this rise only because proteinuria has not yet developed. As Chesley (1985) emphasized, 10 percent of eclamptic seizures develop before overt proteinuria can be detected. Finally, gestational hypertension is reclassified by some as transient hypertension if evidence for preeclampsia does not develop and the blood pressure returns to normal by 12 weeks postpartum.  Chẩn đoán này được thực hiện ở những phụ nữ có huyết áp đạt 140/90 mm Hg hoặc cao hơn cho lần đầu tiên sau khi midpregnancy, nhưng trong đó protein niệu không xác định (Bảng 40-1). Gần một nửa trong số những phụ nữ này sau đó phát triển hội chứng tiền sản giật, trong đó bao gồm những phát hiện như đau đầu hoặc đau vùng thượng vị, protein niệu, giảm tiểu cầu. Mặc dù vậy, khi huyết áp tăng lên đáng kể, đó là nguy hiểm cho cả mẹ và thai nhi để bỏ qua sự gia tăng này chỉ vì protein niệu chưa phát triển. Như Chesley (1985) nhấn mạnh, 10 phần trăm của cơn động kinh co giật phát triển trước khi protein niệu công khai có thể được phát hiện. Cuối cùng, tăng huyết áp thai kỳ được phân loại lại bởi một số như là tăng huyết áp thoáng qua nếu bằng chứng tiền sản giật không phát triển và huyết áp về bình thường 12 tuần sau khi sinh.
  Diagnostic Criteria for Pregnancy-Associated Hypertension  Tiêu chuẩn chẩn đoán cao huyết áp liên quan đến thai kỳ
 Condition Điều kiện Criteria Required Tiêu chuẩn
Gestational hypertension BP > 140/90 mmHg after 20 weeks in previously normotensive women
Preeclampsia-Hypertension and:
Proteinuria  Protein niệu • > 300 mg/24h, or• Protein: creatinine ratio > 0.3 or

• Dipstick 1+ persistent(a)

Or
Thrombocytopenia  Giảm Tiểu cầu  

• Platelets < 100,000/pL

Renal insufficiency  Suy thận • Creatinine > 1.1 mg/dl or doubling of baseline (b)
Liver involvement  Men gan • Serum transaminase level’s twice normal (c)  Nồng độ transaminase huyết thanh cao gấp hai lần bình thường
Cerebral symptoms  Triệu chứng não • Headache, visual disturbances, convulsions  Nhức đầu, rối loạn thị giác, co giật
Pulmonary edema  Phù phổi
(a)Recommended only if sole available test.  – Khuyến cáo chỉ khi đó là test duy nhất
(b)No prior renal disease. – Không mắc bệnh thận trước đó
(c)AST (aspartate aminotransferase) or ALT (alanine aminotransferase).
Modified from the American College of Obstetricians and Gynecologists, 2013b.

Preeclampsia Syndrome

 Hội chứng tiền sản giật

 As emphasized throughout this chapter, preeclampsia is best described as a pregnancy-specific syndrome that can affect virtually every organ system. And, although preeclampsia is much more than simply gestational hypertension with proteinuria, appearance of proteinuria remains an important diagnostic criterion. Thus, proteinuria is an objective marker and reflects the system-wide endothelial leak, which characterizes the preeclampsia syndrome.  Như đã nhấn mạnh trong suốt chương này, tiền sản giật được mô tả như là một hội chứng thai kỳ cụ thể mà có thể ảnh hưởng đến hầu hết các hệ cơ quan. Và, mặc dù tiền sản giật là nhiều hơn so với tăng huyết áp thai kỳ đơn giản với protein niệu, sự xuất hiện của protein niệu vẫn còn là một tiêu chí chẩn đoán quan trọng. Vì vậy, protein niệu là một dấu hiệu khách quan và phản ánh sự rò rỉ màng trong toàn hệ thống, đó là đặc điểm của hội chứng tiền sản giật.
 Abnormal protein excretion is arbitrarily defined by 24-hour urinary excretion exceeding 300 mg; a urine protein:creatinine ratio ≥ 0.3; or persistent 30 mg/dL (1+ dipstick) protein in random urine samples (Lindheimer, 2008a). None of these values is sacrosanct, and urine concentrations vary widely during the day, as do dipstick readings. Thus, assessment may show a dipstick value of 1+ to 2+ from concentrated urine specimens from women who excrete < 300 mg/day. As discussed on page 740, it is likely that determination of a spot urine:creatinine ratio is a suitable replacement for a 24- hour urine measurement (Chap. 4, p. 65).  Bài tiết protein bất thường một cách tùy tiện được xác định bởi bài tiết nước tiểu 24 giờ quá 300 mg; một mẫu protein nước tiểu: creatinine tỷ lệ ≥ 0,3; hay persistent 30 mg / dL (1+ dipstick) protein trong mẫu nước tiểu ngẫu nhiên (Lindheimer, 2008a). Không giá trị nào trong số những giá trị này là duy nhất, và nồng độ nước tiểu khác nhau trong ngày, làm thay đổi việc đọc qua thử dipstick. Vì vậy, đánh giá có thể hiển thị giá trị của que thử 1+ 2+ đến từ các mẫu nước tiểu đậm đặc từ những người phụ nữ tiết ra <300 mg / ngày. Như đã thảo luận ở trang 740, có khả năng là xác định một nước tiểu tại chỗ: creatinin là một sự thay thế thích hợp cho một phép đo nước tiểu 24 giờ (Chap 4, trang 65..).
 It is now appreciated that overt proteinuria may not be a feature in some women with the preeclampsia syndrome (Sibai, 2009). Because of this, the Task Force (2013) suggested other diagnostic criteria, which are shown in Table 40-1. Evidence of multiorgan involvement may include thrombocytopenia, renal dysfunction, hepatocellular necrosis (“liver dysfunction”), central nervous system perturbations, or pulmonary edema.  Nó bây giờ được đánh giá cao mà protein niệu công khai có thể không phải là một tính năng trong một số phụ nữ có hội chứng tiền sản giật (Sibai, 2009). Bởi vì điều này, Task Force (2013) đã đề xuất tiêu chuẩn chẩn đoán khác, được thể hiện trong Bảng 40-1. Bằng chứng về sự tham gia đa phủ tạng có thể bao gồm giảm tiểu cầu, rối loạn chức năng thận, gan hoại tử (“rối loạn chức năng gan”), nhiễu loạn hệ thống thần kinh trung ương, gây phù phổi.

 Indicators of Preeclampsia Severity

 Các chỉ số về mức độ nghiêm trọng Tiền sản giật

 The markers listed in Table 40-1 are also used to classify preeclampsia syndrome severity. Although many use a dichotomous “mild” and “severe” classification, the Task Force (2013) discourages the use of “mild preeclampsia.” It is problematic that there are criteria for the diagnosis of “severe” preeclampsia, but the default classification is either implied or specifically termed as “mild,” “less severe,” or “nonsevere” (Alexander, 2003; Lindheimer, 2008b). There are no generally agreed-on criteria for “moderate” preeclampsia—an elusive third category. We use the criteria listed in Table 40-2, which are categorized as “severe” versus “nonsevere.” Importantly, while it is pragmatic that nonsevere classifications include “moderate” and “mild,” these have not been specifically defined.  Các dấu hiệu được liệt kê trong Bảng 40-1 cũng được sử dụng để phân loại tiền sản giật hội chứng nghiêm trọng. Mặc dù nhiều người sử dụng một lưỡng phân “nhẹ” và “nghiêm trọng” phân loại, Task Force (2013) không khuyến khích việc sử dụng “tiền sản giật nhẹ.” Đó là vấn đề mà có những tiêu chí để chẩn đoán tiền sản giật “nghiêm trọng”, nhưng việc phân loại mặc định là hoặc ngụ ý hay gọi cụ thể là “nhẹ”, “ít nghiêm trọng”, hoặc “không trầm trọng” (Alexander, 2003; Lindheimer, 2008b). Không có tiêu chuẩn chung đã được thống nhất về tiền sản giật  “vừa phải” là loại thứ ba khó nắm bắt. Chúng tôi sử dụng các tiêu chí được liệt kê trong Bảng 40-2, được phân loại là “nặng” so với “không nặng.” Quan trọng hơn,  phân loại không trầm trọng bao gồm “trung bình” và “nhẹ”, những điều này đã không được xác định cụ thể.
Abnormality bất thường Nonsevere(b) Severe
Diastolic BP < 110 mm Hg > 110 mm Hg
Systolic BP < 160 mm Hg > 160 mm Hg
Proteinuria(c) – protein niệu None to positive – Không dương tính None to positive
Headache – Đau đầu Absent – Vắng mặt Present – Xuất hiện
Visual disturbances – Rối loạn thị giác Absent Present
Upper abdominal pain – Đau thượng vị Absent Present
Oliguria – Thiểu niệu Absent Present
Convulsion (eclampsia) – Động kinh (sản giật) Absent Present
Serum creatinine – Creatinine huyết thanh Normal – Bình thường Elevated – Cao
Thrombocytopenia – Giảm tiểu cầu (< 100,000/pL) Absent Present
Serum transaminase elevation- Nồng độ transaminase huyết thanh Minimal – Nhỏ Marked – Chỉ điểm
Fetal-growth restriction – Thai phát triển hạn chế Absent Obvious – Rõ ràng
Pulmonary edema – Phù phổi Absent Present

(a )Compare with criteria in Table 40-1.

(b)Includes “mild” and “moderate” hypertension not specifically defined. – Bao gồm tăng huyết áp “nhẹ” va “trung bình”

(c)Most disregard degrees of proteinuria as being nonsevere or severe. –

BP = blood pressure.

 Some symptoms are considered to be ominous. Headaches or visual disturbances such as scotomata can be premonitory symptoms of eclampsia. Epigastric or right upper quadrant pain frequently accompanies hepatocellular necrosis, ischemia, and edema that ostensibly stretches Glisson capsule. This characteristic pain is frequently accompanied by elevated serum hepatic transaminase levels. Finally, thrombocytopenia is also characteristic of worsening preeclampsia as it signifies platelet activation and aggregation as well as microangiopathic hemolysis. Other factors indicative of severe preeclampsia include renal or cardiac involvement and obvious fetal-growth restriction, which also attests to its duration.  Một số triệu chứng được coi là đáng ngại. Nhức đầu hoặc rối loạn thị giác như ám điểm có thể là triệu chứng báo hiệu của tiền sản giật. Đau Thượng vị hoặc đau hạ sườn phải thường xuyên đi kèm với hoại tử tế bào gan, thiếu máu cục bộ, và phù nề mà vẻ bề ngoài là trải dài Glisson viên nang.Đặc tính đau này thường đi kèm với nồng độ transaminase gan huyết thanh. Cuối cùng, giảm tiểu cầu cũng là đặc trưng của tiền sản giật nặng hơn vì nó có nghĩa kích hoạt tiểu cầu và tập hợp cũng như tán huyết microangiopathic. Các yếu tố khác biểu hiện của tiền sản giật nặng bao gồm sự tham gia của thận hoặc tim và hạn chế sự thai nhi tăng trưởng rõ ràng, đó cũng là minh chứng cho sự tồn tại của nó.
 As will be discussed, the more profound these signs and symptoms, the less likely they can be temporized, and the more likely delivery will be required. A caveat is that differentiation between nonsevere and severe gestational hypertension or preeclampsia can be misleading because what might be apparently mild disease may progress rapidly to severe disease.  Như sẽ được thảo luận, sâu sắc hơn những dấu hiệu và triệu chứng, ít có khả năng chúng có thể được temporized, và sự kết thúc thai kỳ nhiều khả năng sẽ được yêu cầu. Một  là sự khác biệt giữa cao huyết áp thai không trầm trọng và trầm trọng hoặc tiền sản giật có thể gây hiểu lầm vì những gì có thể là bệnh dường như nhẹ có thể tiến triển nhanh chóng đến bệnh nặng.
  Eclampsia

In a woman with preeclampsia, a convulsion that cannot be attributed to another cause is termed eclampsia. The seizures are generalized and may appear before, during, or after labor. The proportion who do not develop seizures until after 48 hours postpartum approximates 10 percent (Sibai, 2005). In some reports, up to a fourth of eclamptic seizures develop beyond 48 hours postpartum (Chames, 2002). Our experiences from Parkland Hospital, however, are that delayed postpartum eclampsia continues to occur in about 10 percent of cases—similar to what we first reported more than 20 years ago (Alexander, 2006; Brown, 1987). This lower percentage was also found in 222 women with eclampsia from The Netherlands (Zwart, 2008).

 Sản giật

Trong một phụ nữ bị tiền sản giật, co giật mà không thể được quy cho nguyên nhân khác được gọi là sản giật. Các cơn co giật là tổng thể và có thể xuất hiện trước, trong hoặc sau khi chuyển dạ. Tỷ lệ người không phát triển kinh cho đến sau 48 giờ sau sinh xấp xỉ 10 phần trăm (Sibai, 2005). Trong một số báo cáo, cho đến một thứ tư của cơn động kinh co giật phát triển quá 48 giờ sau khi sinh (Chames, 2002). Kinh nghiệm của chúng tôi từ bệnh viện Parkland, tuy nhiên, rằng sản giật sau sinh chậm tiếp tục xảy ra trong khoảng 10 phần trăm trường hợp-tương tự như những gì chúng ta lần đầu tiên báo cáo hơn 20 năm trước đây (Alexander, 2006; Brown, 1987). tỷ lệ phần trăm thấp hơn này cũng được tìm thấy trong 222 phụ nữ bị sản giật từ Hà Lan (Zwart, 2008).

Preeclampsia Superimposed on Chronic Hypertension

Tiền sản giật trên nền cao huyết áp mãn tính

 Regardless of its cause, any chronic hypertensive disorder predisposes a woman to develop superimposed preeclampsia syndrome. Chronic underlying hypertension is diagnosed in women with documented blood pressures ≥ 140/90 mm Hg before pregnancy or before 20 weeks’ gestation, or both. Hypertensive disorders can create difficult problems with diagnosis and management in women who are not first seen until after midpregnancy. This is because blood pressure normally decreases during the second and early third trimesters in both normotensive and chronically hypertensive women (Chap. 50, p. 1003).  Bất kể nguyên nhân của nó, bất kỳ rối loạn tăng huyết áp mãn tính dẫn đến một người phụ nữ để phát triển hội chứng tiền sản giật chồng lên. tăng huyết áp dưới nền mạn tính được chẩn đoán ở phụ nữ có huyết áp ghi nhận ≥ 140/90 mm Hg trước khi mang thai hoặc mang thai trước 20 tuần, hoặc cả hai. Tăng huyết áp có thể tạo ra các vấn đề khó khăn với chẩn đoán và quản lý ở những phụ nữ không được tìm ra đầu tiên cho đến khi sau khi tam cả nguyệt giữa. Điều này là do huyết áp thường giảm trong tam cá nguyệt thứ hai và đầu thứ ba ở cả phụ nữ huyết áp bình thường và cao huyết áp mãn tính (Chap. 50, tr. 1003).
 Thus, a woman with previously undiagnosed chronic vascular disease who is seen before 20 weeks frequently has blood pressures within the normal range. During the third trimester, however, as blood pressures return to their originally hypertensive levels, it may be difficult to determine whether hypertension is chronic or induced by pregnancy. Even a careful search for evidence of preexisting end-organ damage may be futile, as many of these women have mild disease and no evidence of ventricular hypertrophy, retinal vascular changes, or renal dysfunction.  Do đó, một người phụ nữ có bệnh mạch máu mạn tính trước đây không được chẩn đoán người được xem trước 20 tuần thường có huyết áp ở mức bình thường. Trong ba tháng cuối, tuy nhiên, như huyết áp trở lại mức ban đầu cao huyết áp của họ, nó có thể khó khăn để xác định xem là cao huyết áp mãn tính hoặc do mang thai. Ngay cả một tìm kiếm cẩn thận cho bằng chứng về tổn thương cơ quan từ trước có thể là vô ích, như nhiều phụ nữ có bệnh nhẹ và không có bằng chứng của phì đại tâm thất, thay đổi mạch máu võng mạc, hoặc rối loạn chức năng thận.
 In some women with chronic hypertension, their blood pressure increases to obviously abnormal levels, and this is typically after 24 weeks. If new-onset or worsening baseline hypertension is accompanied by new-onset proteinuria or other findings listed in Table 40-1 , then superimposed preeclampsia is diagnosed. Compared with “pure” preeclampsia, superimposed preeclampsia commonly develops earlier in pregnancy. It also tends to be more severe and often is accompanied by fetal-growth restriction. The same criteria shown in Table 40-2 are also used to further characterize severity ofsuperimposed preeclampsia.  Ở một số phụ nữ bị tăng huyết áp mạn tính, huyết áp của họ tăng lên đến mức rõ ràng là bất thường, và điều này thường là sau 24 tuần. Nếu mới khởi phát hoặc tăng huyết áp ban đầu xấu đi được đi kèm với protein niệu mới khởi phát hoặc kết quả khác được liệt kê trong Bảng 40-1, sau đó chồng tiền sản giật được chẩn đoán. So với tiền sản giật “tinh khiết”, tiền sản giật chồng thường phát triển sớm trong thai kỳ. Nó cũng có xu hướng nặng hơn và thường được đi kèm bởi sự hạn chế của thai nhi tăng trưởng. Các tiêu chí cùng thể hiện trong Bảng 40-2 cũng được sử dụng để mô tả thêm mức độ nghiêm trọng của tiền sản giật chồng.