Sinh lý chuyển dạ – Physiology of Labor

PHASES OF PARTURITION
PHASE 1 OF PARTURITION: UTERINE QUIESCENCE AND CERVICAL SOFTENING
PHASE 2 OF PARTURITION: PREPARATION FOR LABOR
PHASE 3 OF PARTURITION: LABOR
PHASE 4 OF PARTURITION: THE PUERPERIUM
PHYSIOLOGICAL AND BIOCHEMICAL PROCESSES REGULATING PARTURITION
PHASE 1: UTERINE QUIESCENCE AND CERVICAL COMPETENCE
PHASE 2: UTERINE ACTIVATION AND CERVICAL RIPENING
PHASE 3: UTERINE STIMULATION

GIAI ĐOẠN QUÁ TRÌNH MANG THAI
GIAI ĐOẠN 1 QUÁ TRÌNH MANG THAI: yên lặng tử cung và làm mềm cổ tử cung
GIAI ĐOẠN 2 QUÁ TRÌNH MANG THAI: chuyẩn bị cho chuyển dạ
GIAI ĐOẠN 3 QUÁ TRÌNH MANG THAI: chuyển dạ
GIAI ĐOẠN 4 QUÁ TRÌNH MANG THAI: QUÁ TRÌNH HẬU SẢN
QUÁ TRÌNH SINH LÝ VÀ SINH HÓA ĐIỀU CHỈNH THAI KỲ
GIAI ĐOẠN 1: Yên lặng tử cung và chuẩn bị cổ tử cung.
GIAI ĐOẠN 2: Hoạt động tử cung và làm chín cổ tử cung
GIAI ĐOẠN 3: Tử cung kích thích

 The last few hours of human pregnancy are characterized by forceful and painful uterine contractions that effect cervical dilatation and cause the fetus to descend through the birth canal. There are extensive preparations in both the uterus and cervix long before this. During the first 36 to 38 weeks of normal gestation, the myometrium is in a preparatory yet unresponsive state. Concurrently, the cervix begins an early stage of remodeling—termed softening—yet maintains structural integrity. Following this prolonged uterine quiescence, there is a transitional phase during which myometrial unresponsiveness is suspended, and the cervix undergoes ripening, effacement, and loss of structural integrity.  Vài giờ cuối cùng trong thời kỳ mang thai của con người được đặc trưng bởi các cơn co tử cung mạnh mẽ và đau đớn , nó gây ra hiệu ứng mở cổ tử cung và sự đi xuống của thai nhi thông qua các ống sinh. Có những sự chuẩn bị sâu rộng về cả tử cung và cổ tử cung trong thời gian dài trước đó. Trong 36 đến 38 tuần đầu tiên của thai kỳ bình thường, cơ trơn tử cung ở trong trạng thái chuẩn bị chưa phản hồi. Đồng thời, cổ tử cung bắt đầu một giai đoạn bao gồm sửa chữa cấu trúc – làm mềm – phá bỏ tính toàn vẹn cấu trúc. Sau sự yên lặng tử cung kéo dài này, có một giai đoạn chuyển tiếp trong lúc đó việc cơ trơn tử cung không đáp ứng bị ngưng lại , và cổ tử cung trải qua chín, xóa mỏng , và mất tính toàn vẹn cấu trúc ban đầu .
 The physiological processes that regulate parturition and the onset of labor continue to be defined. It is clear, however, that labor onset represents the culmination of a series of biochemical changes in the uterus and cervix. These result from endocrine and paracrine signals emanating from both mother and fetus. Their relative contributions vary between species, and it is these differences that complicate elucidation of the exact factors that regulate human parturition. When parturition is abnormal, then preterm labor, dystocia, or postterm pregnancy may result. Of these, preterm labor remains the major contributor to neonatal mortality and morbidity in developed countries. Các quá trình sinh lý chi phối quá trình mang thai và  khởi phát chuyển dạ tiếp tục được tìm ra. Dù nó đã rõ ràng, tuy nhiên, việc khởi phát chuyển dạ đại diện cho đỉnh của một loạt các thay đổi sinh hóa trong tử cung và cổ tử cung. Những kết quả tín hiệu từ tuyến nội tiết và yếu tố nội tiết lân cận (paracrine)  phát ra từ cả mẹ và thai nhi. Ảnh hưởng của nó khác nhau giữa các loài, và đó là những khác biệt phức tạp làm sáng tỏ trong những yếu tố chính xác giúp điều chỉnh quá trình mang thai của con người. Khi quá trình mang thai là không bình thường, nó có thể dẫn đến sinh non, đẻ khó, hoặc thai quá ngày . Trong số này, sinh non vẫn là đóng góp lớn cho tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh và bệnh suất ở các nước phát triển.
 The bringing forth of young—parturition—requires well-orchestrated transformations in both uterine and cervical function. As shown in Figure 21-1, parturition can be arbitrarily divided into four overlapping phases that correspond to the major physiological transitions of the myometrium and cervix during pregnancy (Casey, 1993, 1997; Challis, 2000; Word, 2007). These phases of parturition include: (1) a prelude to it, (2) the preparation for it, (3) the process itself, and (4) recovery. Importantly, the phases of parturition should not be confused with the clinical stages of labor, that is, the first, second, and third stages—which comprise the third phase of parturition (Fig. 21-2).  Việc đưa đửa trẻ ra ngoài – mang thai – đòi hỏi biến đổi nổi tốt trong cả hai tử cung và chức năng cổ tử cung. Như thể hiện trong hình 21-1, quá trình mang thai có thể tự phân chia thành bốn giai đoạn chồng chéo tương ứng với quá trình chuyển đổi sinh lý chính của cơ trơn tử cung và cổ tử cung khi mang thai (Casey, 1993, 1997; Challis, 2000; Word, 2007). Các giai đoạn của quá trình mang thai bao gồm: (1) một đoạn khởi đầu cho cuộc đẻ, (2) chuẩn bị cho cuộc đẻ, (3) các quá trình chính của cuộc đẻ, và (4) phục hồi. Quan trọng hơn, các giai đoạn của quá trình mang thai không nên nhầm lẫn với các giai đoạn lâm sàng của chuyển dạ, đó là, giai đoạn một,hai, và giai đoạn ba -những giai đoạn này nằm trong giai đoạn thứ ba của quá trình mang thai.
 pha-cua-cuoc-de
Pha 1 Sự im lặng Pha 2 Hoạt động Pha 3 kích thích Pha 4 co hồi
Chuẩn bị cho cuộc đẻ Chuẩn bị cho chuyển dạ Các quá trình của chuyển dạ Hồi phục
Tử cung co rút không đáp ứng,CTC mềm Tử cung chuẩn bị cho chuyển dạ, CTC chín muồi Tử cung co rút, CTC xóa mở(3 giai đoạn chuyển dạ)
Bắt đầu của cuộc đẻ Khởi phát chuyển dạ
 FIGURE 21-2 Composite of the average dilatation curve for labor in nulliparous women. The curve is based on analysis of data derived from a large, nearly consecutive series of women. The first stage is divided into a relatively flat latent phase and a rapidly progressive active phase. In the active phase, there are three identifiable component parts: an acceleration phase, a linear phase of maximum slope, and a deceleration phase. (Redrawn from Friedman, 1978.)  Hình 21-2 Tổng hợp của đường cong hiển thị độ mở trung bình cho chuyển dạ ở phụ nữ chưa có con. Các đường cong được dựa trên phân tích các dữ liệu thu được từ một lớn, hàng loạt gần như liên tục của phụ nữ. Giai đoạn đầu tiên được chia thành một giai đoạn tiềm ẩn tương đối bằng phẳng và một giai đoạn hoạt động tiến bộ nhanh chóng. Trong giai đoạn hoạt động, được chia làm 3 giai đoạn với tính chất như sau: một giai đoạn tăng tốc, một giai đoạn tuyến tính của độ dốc tối đa, và một giai đoạn giảm tốc. (Vẽ lại từ Friedman, 1978.)
 duong-mo-co-tu-cung