Rubella và thai kỳ

Rubella là gì?

Rubella là tên xuất phát từ Latinh, nghĩa là “nốt đỏ nhỏ”, còn gọi là “sởi Đức”, “sởi 3 ngày”, do virus RNA thuộc nhóm Togavirus gây ra. Là một bệnh sốt phát ban lành tính, lây nhiễm không NGUY CẤP, nhưng lại khá NGHIÊM TRỌNG vì có khả năng gây ra các dị tật bẩm sinh cho thai nhi.

Triệu chứng gì nghĩ đến Rubella ?

  • Sốt nhẹ 380C, nhức đầu, mệt mỏi, đau họng, chảy mũi trong, đôi khi đỏ mắt, thường xuất hiện 1- 4 ngày. Sau khi phát ban thì sốt giảm.
  • Nổi hạch: ở vùng xương chẩm, bẹn, cổ, sờ hơi đau. Hạch thường nổi trước phát ban, tồn tại vài ngày sau khi ban bay hết.
  • Phát ban: dấu hiệu làm người ta để ý tới. Ban mọc lúc đầu ở trên đầu, mặt, rồi mọc khắp toàn thân, thường không tuần tự như sởi. Nốt ban có hình tròn hay bầu dục, đường kính khoảng 1 – 2 mm, các nốt có thể hợp thành từng mảng hay đứng riêng lẻ. Trong vòng 24 giờ ban mọc khắp người, tồn tại trong 3 ngày
  • Đau khớp.
  • Có liên hệ với vùng dịch tễ nhiễm Rubella

Chú ý : Trên thực tế đôi khi thai phụ có một trong các triệu chứng trên hoặc không có triệu chứng gì vẫn cần làm xét nghiệm chẩn đoán rubella trong thai kỳ một cách thường quy.

 

Chẩn đoán rubella?

Quy trình chẩn đoán :

Xét nghiệm Rubella
• Thực hiện xét nghiệm Rubella cho tất cả thai phụ đến khám thai lần đầu, tốt nhất khi thai < 8 tuần, chỉ thử thường qui tới tuổi thai ≤ 16 tuần (chung với xét nghiệm thường qui).
• Không xét nghiệm Rubella cho những thai phụ có kháng thể an toàn từ trước khi có thai lần này.

Xét nghiệm huyết thanh học 

Lấy huyết thanh thử IgM và IgG tại thời điểm lần khám đầu tiên (Lưu huyết thanh)

  • IgM + / IgG +
    • Nhiễm cấp tính hoặc dương tính IgM giả
      • Lấy huyết thanh thứ 2 sau 5-10 ngày sau đó. Kiểm tra lại IgM, IgG và kiểm tra độ nhạy của xét nghiệm (avidity testing)
        • Độ nhậy cao, không gia tăng lượng IgG (xét nghiệm cùng với huyết thanh đầu tiên) => Có thể dương tính giả
        • Độ nhậy thấp, nồng độ IgG tăng lên , hoặc giảm xuống >4 lần (xét nghiệm cùng với huyết thanh đầu tiên) => Nhiễm trùng cấp tính
          • Thảo luận các lựa chọn cho kết cục mang thai
  • IgM + / IgG-
    • Nhiễm trùng cấp tính hoặc dương tính IgM giả
      • Lấy huyết thanh thứ 2 sau 5-10 ngày sau đó. Kiểm tra lại IgM, IgG và kiểm tra độ nhạy của xét nghiệm (avidity testing)
        • Độ nhậy cảm cao, không gia tăng lượng IgG (xét nghiệm cùng với huyết thanh đầu tiên) Có thể dương tính giả
        • Độ nhậy cảm thấp, nồng độ IgG tăng lên , hoặc giảm xuống >4 lần (xét nghiệm cùng với huyết thanh đầu tiên) Nhiễm trùng cấp tính
          • Thảo luận các lựa chọn cho kết cục mang thai
  • IgM- / IgG-
    • Nhạy cảm
      • Lặp lại IgM / IgG 3-6 tuần sau khi tiếp xúc nghi ngờ hoặc lúc thai 16 tuần (Kiểm tra đồng thời với mẫu đầu tiên)
        • Nếu IgM +, IgG +
          • Nhiễm Trùng Cấp Tính
            • Thảo luận các lựa chọn cho kết cục mang thai
        • Nếu IgM- / IgG-
          • Lặp lại IgM / IgG trong 6 tuần nếu nguy cơ phơi nhiễm tiếp tục tồn tại (Kiểm tra đồng thời với mẫu đầu tiên)
            • Nếu IgM +, IgG +
              • Nhiễm Trùng Cấp Tính
                • Thảo luận các lựa chọn cho kết cục mang thai
            • Nếu IgM- / IgG-
              • Chưa Nhiễm
  • IgM- / IgG + (đây là trường hợp hay gặp nhất)
    • Miễn dịch
    • Hoặc qua thời điểm nhiễm nguyên phát trên 6– 8 tuần
      • Xét nghiệm lại sau 2 tuần nếu nghi ngờ (IgG >200)
        • Nếu IgM +, IgG +
          • Nhiễm Trùng Thứ Phát
            • Thảo luận các lựa chọn cho kết cục mang thai
        • Nếu IgM -, IgG + tăng hoặc giảm hơn 4 lần
          • Có thể mới nhiễm trong 3 tháng đã qua giai đoạn cấp
            • Thảo luận các lựa chọn cho kết cục mang thai
        • Nếu IgM -, IgG + không tăng hoặc giảm hơn 4 lần
          • Miễn dịch

Điều trị rubella thế nào ?

– Bệnh Rubella mắc phải: là một bệnh nhẹ tự giới hạn và không có thuốc điều trị đặc hiệu.

– Hội chứng Rubella bẩm sinh: không có thuốc điều trị đặc hiệu.

– Nghỉ ngơi

– Uống nhiều nước và chất dinh dưỡng, bổ sung vitamin.

– Hạ nhiệt (nếu cần)

– Giảm đau (nếu cần)

Diễn tiến của bệnh rubella?

1.Thời kỳ ủ bệnh: 12 – 23 ngày sau khi tiếp xúc với nguồn lây. Người bệnh đã nhiễm virus, chưa có biểu hiện bệnh.

2.Thời kỳ phát bệnh: có 3 biểu hiện chính: sốt, phát ban, nổi hạch.

  • Sốt nhẹ 380C, nhức đầu, mệt mỏi, đau họng, chảy mũi trong, đôi khi đỏ mắt, thường xuất hiện 1- 4 ngày. Sau khi phát ban thì sốt giảm.
  • Nổi hạch: ở vùng xương chẩm, bẹn, cổ, sờ hơi đau. Hạch thường nổi trước phát ban, tồn tại vài ngày sau khi ban bay hết.
  • Phát ban: dấu hiệu làm người ta để ý tới. Ban mọc lúc đầu ở trên đầu, mặt, rồi mọc khắp toàn thân, thường không tuần tự như sởi. Nốt ban có hình tròn hay bầu dục, đường kính khoảng 1 – 2 mm, các nốt có thể hợp thành từng mảng hay đứng riêng lẻ. Trong vòng 24 giờ ban mọc khắp người
  • Đau khớp.
  • Bệnh lui thường hết sốt, ban bay nhanh không theo quy luật, không để lại dấu vết trên da, hạch trở về bình thường muộn hơn thường sau 1 tuần

3.Thời kỳ lui bệnh:

Triệu chứng kéo dài 3 – 7 ngày rồi tự hết. Đau khớp có thể kéo dài lâu hơn.

Rubella lây qua những đường nào?

• Lây truyền qua đường hô hấp.

• Lây truyền từ những giọt nước bọt có chứa virus Rubella vào đường mũi họng, nhân bản ở đường hô hấp và phân bố theo đường máu.

• Virut rubella có đi qua nhau thai không?

Rubella lây từ mẹ sang con qua nhau thai . Nó có thể tồn tại ở bào thai trong khi mang thai và đào thải trong vòng 6 – 31 tháng sau sanh.

Rubella trong thai kỳ có gây dị tật không?

• Nguy cơ và độ trầm trọng của dị tật tùy thuộc tuổi thai lúc nhiễm virus.

– 90% trẻ dị tật nếu mẹ nhiễm khi thai < 12 tuần.
– 30 – 40% trẻ dị tật nếu mẹ nhiễm ở tuổi thai 13-14 tuần.
– 20% trẻ dị tật nếu mẹ nhiễm ở tuổi thai 15-16 tuần.
– 10% trẻ dị tật nếu nhiễm ở tuổi thai 17-20 tuần.
– Rất hiếm gặp dị tật nếu mắc bệnh sau tuần lễ thứ 20 của thai kỳ.

• Ảnh hưởng sự phát triển bào thai gồm thai chết lưu, sẩy thai, sinh non, trẻ mang dị tật bẩm sinh.

• Dị tật bẩm sinh

– Điếc bẩm sinh là thể đơn thuần phổ biến.

Miễn dịch học rubella .

  • Bệnh Rubella mắc phải: khi nốt ban mờ dần thì kháng thể Rubella xuất hiện. Hiệu giá kháng thể tăng nhanh vào 1-3 tuần sau. Kháng thể IgM xuất hiện trước không tồn tại quá 6 tuần. Sau khi phát ban 2 tuần nếu tìm thấy kháng thể IgM chứng tỏ mới nhiễm virus Rubella. Kháng thể IgG thường tồn tại suốt đời.
  • Vào ngày phát ban chỉ khoảng 50% trường hợp dương tính IgM , sau 5 ngày thì > 90% dương tính với IgM , nếu âm tính vào ngày ít hơn 5 ngày thì cần làm xét nghiệm lần 2 để loại trừ với sởi.
  • Hội chứng Rubella bẩm sinh: mặc dù trong bụng mẹ thai nhi đã tiếp xúc kháng nguyên Rubella nhưng ở trẻ sơ sinh xuất hiện đáp ứng miễn dịch không bình thường, hình như bị rối loạn đáp ứng miễn dịch dịch thể, kháng thể IgM cao bất thường, hiệu giá kháng thể IgG thấp, phản ứng yếu với kháng nguyên đồng loại. Điều này chứng tỏ khả năng ức chế trực tiếp lên hệ thống miễn dịch trẻ của virus.
  •  Trong hầu hết các trường hợp Phát ban, rubella IgG có thể phát hiện được sau 8 ngày sau khi phát ban. Xét nghiệm IgG nên được thực hiện càng sớm càng tốt (trong vòng 7 đến 10 ngày) sau khi khởi phát bệnh và một lần nữa> 7-14 ngày (tốt hơn là 2 – 3 tuần) sau đó.

Bài tham khảo:

https://www.cdc.gov/vaccines/pubs/surv-manual/chpt14-rubella.html

http://tudu.com.vn/vn/y-hoc-thuong-thuc/suc-khoe-phu-nu/lam-me-an-toan/cham-soc-ba-me-mang-thai/rubella/