Ngôi, thế, kiểu thế

NGÔI, THẾ VÀ KIỂU THẾ

Ngôi, thế kiểu thế là cách dùng để mô tả tư thế, vị trí tương đối của phần thai sẽ đi qua đường sanh, so với các điểm mốc.

Ngôi là phần thai nhi trình diện trước eo trên của khung chậu mẹ. Ngôi có thể là ngôi dọc hay ngôi ngang.

Ngôi được định nghĩa là phần của thai nhi trình diện trước eo trên để qua đó ngôi sẽ lọt và tiến triển theo cơ chế của nó.

•    Ngôi có thể là ngôi dọc. Trong ngôi dọc, trục dọc của thai song song với trục của của cơ thể người mẹ. Ngôi dọc có thể là ngôi đầu hoặc ngôi mông.

•    Ngôi cũng có thể là ngôi ngang. Trong ngôi ngang, trục của thai nhi vuông góc với trục của cơ thể người mẹ. Đôi khi, trục của thai nhi hợp với trục của người mẹ một góc 45°, thai nhi nằm xéo, không ổn định và sẽ định hình trở thành ngôi dọc hoăc ngôi ngang khi vào chuyển dạ.

Trong ngôi đầu, đầu có thể có các vị trí cúi ngửa khác nhau, tạo ra các loại ngôi đầu khác nhau.

Tùy theo tương quan giữa đầu và thân thai nhi, người ta phân biệt:

•    Ngôi chỏm:    là    ngôi    đầu    với    đầu    cúi tối đa, cằm chạm vào thân.

•    Ngôi thóp trước:    là    ngôi    đầu    với    đầu    ở tư thế trung gian, thóp trước trình trước    eo trên.

•    Ngôi trán:    là    ngôi    đầu    với    đầu    ở tư thế trung gian, trán trình trước eo trên.

•    Ngôi mặt:    là    ngôi    đầu    với    đầu    ngửa tối đa thật tốt, gáy chạm vào lưng.

Mỗi ngôi có một điểm chuẩn đặc biệt gọi là mốc của ngôi. Mốc là đặc điểm giúp nhận diện được ngôi.

•    Ngôi chỏm có mốc là thóp sau.

•    Ngôi trán có mốc là gốc mũi.

•    Ngôi mặt có mốc là cằm.

•    Ngôi mông có mốc là đỉnh xương cùng.

•    Ngôi ngang có mốc là mỏm vai.

Thế là tương quan giữa điểm mốc của ngôi với bên phải hoặc bên trái khung chậu người mẹ.

Như vậy mỗi ngôi có hai thế : thế phải và thế trái.

Kiểu thế là tương quan giữa điểm mốc của ngôi với các điểm mốc của khung chậu người mẹ: (1) gai mào chậu lược, (2) khớp cùng chậu, (3) điểm chính giữa của gờ vô danh

Như vậy mỗi ngôi có 6 kiểu thế:

•    Trái trước

•    Trái ngang

•    Trái sau

•    Phải trước

•    Phải ngang

•    Phải sau

Riêng với ngôi ngang, cần xác định được vai ở phía phải hay trái của người mẹ và lưng thai ở phía trước hay phía sau , để có thể mô tả được kiểu của thai nhi nằm trong tử cung.

CHẨN ĐOÁN NGÔI THẾ KIỂU THẾ

Xác định ngôi, thế, kiểu thế là việc bắt buộc phải thực hiện trong chuyển dạ, để có được ý niệm về cuộc sanh hay ra được quyết định về cuộc sanh.

 

Có nhiều phương pháp chẩn đoán ngôi, thế, kiểu thế: sờ nắn bụng, thăm khám âm đạo, vị trí nghe tim thai. Trong những trường hợp khó, có thể sử dụng đến siêu âm hoặc X-quang trong trường hợp hãn hữu.

Bốn thủ thuật Léopold

Bốn thủ thuật Leopold giúp xác định được ngôi và thế thai nhi. Thủ thuật được mô tả như sau:

Trong quá trình khám, sản phụ nằm ngửa trên bàn khám, bụng để trần, người khám đứng bên phải và nhìn về phía    mặt    của sản phụ. Chỉ ở thủ thuật thứ tư thì người khám mới xoay người nhìn về phía chân sản phụ.

1.    Thủ thuật thứ nhất: Dùng hai bàn tay nắn nhẹ nhàng vùng đáy tử cung để xác định cực nào là của thai nhi (đầu hay mông) đang ở vùng đáy của tử cung.

2.    Thủ thuật thứ hai : Nắn nhẹ nhàng nhưng sâu ở hai bên bụng để xác định bên nào là lưng, bên nào là chi của thai nhi.

3.    Thủ thuật thứ ba: Người khám dùng ngón cái và các ngón còn lại của bàn tay phải nắn vùng trên xương vệ của sản phụ để xác định lại tên của phần thai nằm ở đoạn dưới của tử cung.

4.    Thủ thuật thứ tư: người khám xoay người lại, mặt hướng về phía chân sản phụ. Dùng các đầu ngón tay ấn sâu trên xương vệ theo hướng trục của eo trên. Nếu là ngôi đầu, một bàn tay sẽ bị chặn lại bởi một khối u tròn (ụ đầu), trong khi bàn tay kia xuống được sâu hơn.

•    Ụ đầu cùng bên với chi trong ngôi chỏm và ngược bên với chi trong ngôi mặt.

•    Khi đầu chưa lọt, hai bàn tay sẽ có hướng hội tụ, do có thể ôm được đầu thai dễ dàng.

•    Đầu càng xuống thấp trong tiểu khung, sờ ụ đầu càng khó. Khi đầu đã lọt, hai bàn tay có    hướng phân    kỳ    ra ngoài,    vì

không ôm được chỏm đã xuống sâu trong tiểu khung.

Thăm khám âm đạo là cách tốt nhất để xác định ngôi thế và kiểu thế.

Thăm khám âm đạo trong lúc chuyển dạ, cổ tử cung đã mở, tạo điều kiện tốt nhất và thuận lợi nhất cho việc tìm và xác định các điểm mốc của ngôi, nhờ đó, cung cấp yếu tố giúp chẩn đoán chính xác ngôi, thế, kiểu thế. Cần lưu ý khi khám âm đạo:

•    Trong ngôi chỏm phải xác định vị trí của các thóp và rãnh liên đỉnh.

•    Trong ngôi mặt, cần xác định vị trí của cằm.

•    Trong ngôi mông, cần xác định vị trí của đỉnh xương cùng và hai ụ ngồi.

Vị trí ổ nghe tim thai bằng ống nghe gỗ cung cấp ý niệm bổ túc về ngôi thai.

Xác định vị trí nghe được tim thai rõ nhất qua ống nghe Pinard là phương pháp hỗ trợ chẩn đoán. Vị trí của ổ nghe tim thai tự thân nó không giúp chẩn đoán ngôi, thế, kiểu thế, nhưng giúp hỗ trợ cho những kết quả tìm thấy khi nắn bụng. Thông thường tiếng tim thai truyền theo cột sống của thai nhi nằm sát với thành tử cung, hoặc qua mỏm cùng vai. Trong ngôi chỏm và ngôi mông, tim thai nghe rõ nhất ở phía lưng thai nhi và mỏm vai. Trong ngôi mặt, tim thai nghe rõ nhất ở vùng ngực thai nhi. Vị trí tương đối trên bụng mẹ của ổ nghe tim thai với ống nghe Pinard thay đổi tùy theo ngôi thai và độ lọt của ngôi thai.

Cận lâm sàng là phương pháp hỗ trợ trong trường hợp rất khó khăn

Đôi khi việc thăm khám qua thành bụng hay qua khám âm đạo không phải lúc nào cũng dễ dàng, ví dụ như sản phụ quá mập, thành bụng quá dày, quá chắc, nước ối quá nhiều.

Trong trường hợp này, siêu âm là một biện pháp an toàn, được sử dụng cho chẩn đoán ngôi và thế.

ngoi-thaiHình 1: 4 loại ngôi đầu khác nhau

Ngôi chỏm (A): là ngôi đầu với đầu cúi tối đa, cằm chạm vào thân.

Ngôi thóp trước (B): là ngôi đầu với đầu ở tư thế trung gian, thóp trước trình trước eo trên.

Ngôi trán (C): là ngôi đầu với đầu ở tư thế trung gian, trán trình trước eo trên.

Ngôi mặt (D): là ngôi đầu với đầu ngửa tối đa thật tốt, gáy chạm vào lưng.

kieu-the

Hình 2: Các kiểu thế trong ngôi chỏm qua khám trên bụng (hình trái) và khám âm đạo (hình phải)

Kiểu thế là tương quan giữa điểm mốc của ngôi với các điểm mốc của khung chậu người mẹ: (1) gai mào chậu lược, (2) khớp cùng chậu, (3) điểm chính giữa của gờ vô danh

Ghi chú (tiếng Anh’):

Left Occiput Anterior: Chẩm Chậu Trái Trước
Left Occiput Transverse: Chẩm Chậu Trái Ngang
Left Occiput Posterior: Chẩm Chậu Trái Sau
Right Occiput Anterior: Chẩm Chậu Phải Trước
Right Occiput Transverse: Chẩm Chậu Phải Ngang
Right Occiput Posterior: Chẩm Chậu Phải Sau
Occiput Anterior: Chẩm Chậu Trước (Chẩm Vệ)
Occiput Posterior: Chẩm Chậu Sau (Chẩm Cùng)

thu-thuat-leopond

Hình 3: Bốn thủ thuật Léopold

Thủ thuật thứ nhất’. Dùng hai bàn tay nắn nhẹ nhàng vùng đáy tử cung để xác định cưc nào là của thai nhi (đầu hay mông) đang ở vùng đáy của tử cung.

Trên hình là cực mông ở đáy tử cung.

Thủ thuật thứ hai’ Nắn nhẹ nhàng nhưng sâu ở hai bên bụng để xác định bên nào là lưng, bên nào là chi của thai nhi.

Trên hình là lưng ở bên phải, chi ở bên trái.

Thủ thuật thứ ba’ Người khám dùng ngón cái và các ngón còn lại của bàn tay phải nắn vùng trên xương vệ của sản phụ để xác định lại tên của phần thai nằm ở đoạn dưới của tử cung.

Trên hình là cực đầu ở đoạn dưới tử cung.

Thủ thuật thứ tư’ người khám xoay người lại, mặt hướng về phía chân sản phụ. Dùng các đầu ngón tay ấn sâu trên xương vệ theo hướng trục của eo trên. Nếu là ngôi đầu, một bàn tay sẽ bị chặn lại bởi một khối u tròn (ụ đầu), trong khi bàn tay kia xuống được sâu hơn.

Trên hình là ngôi chỏm với đầu cao chưa lọt, bàn tay hội tụ, hướng chụm vào nhau.