Ngôi chẩm trước

Bài viết là Phần 2 trong chương 22.Chuyển dạ bình thường

OCCIPUT ANTERIOR PRESENTATION

In most cases, the vertex enters the pelvis with the sagittal suture lying in the transverse pelvic diameter. The fetus enters the pelvis in the left occiput transverse (LOT) position in 40 percent of labors and in the right occiput transverse (ROT) position in 20 percent (Caldwell, 1934). In occiput anterior positions—LOA or ROA—the head either enters the pelvis with the occiput rotated 45 degrees anteriorly from the transverse position, or this rotation occurs subsequently. The mechanism of labor in all these presentations is usually similar.

Ngôi chẩm trước

Trong hầu hết các trường hợp, phần đỉnh đi vào xương chậu với rãnh liên đỉnh nằm trong đường kính ngang chậu . Thai nhi đi vào xương chậu ở vị trí  chẩm chậu trái ngang (LOT) trong 40 phần trăm chuyển dạ và ở đúng vị trí chẩm chậu phải ngang (ROT) trong 20 phần trăm (Caldwell, 1934). Trong vị trí chẩm trái trước LOA hoặc ROA-đầu thai có thể đi vào xương chậu với chẩm xoay 45 độ về phía trước từ vị trí nằm ngang, hoặc việc việc xoay này xảy ra sau đó. Các cơ chếchuyển dạ trong tất cả các ngôi thai khác thường tương tự.

 The positional changes of the presenting part required to navigate the pelvic canal constitute the mechanisms of labor. The cardinal movements of labor are engagement, descent, flexion, internal rotation, extension, external rotation, and expulsion (Fig. 22-11 ). During labor, these movements not only are sequential but also show great temporal overlap. For example, as part of engagement, there is both flexion and descent of the head. It is impossible for the movements to be completed unless the presenting part descends simultaneously. Concomitantly, uterine contractions effect important modifications in fetal attitude, or habitus, especially after the head has descended into the pelvis. These changes consist principally of fetal straightening, with loss of dorsal convexity and closer application of the extremities to the body. As a result, the fetal ovoid is transformed into a cylinder, with the smallest possible cross section typically passing through the birth canal.  Những thay đổi về ngôi thế của các phần trình diện để có thể đi qua các đường ống trong khung chậu tạo thành các cơ chế của chuyển dạ.Những sự di chuyển chủ yếu trong chuyển dạ gồm lọt(engagement), xuống(descent), uốn cong, nội xoay, mở rộng, ngoại xoay, và sổ (expulsion) (Hình. 22-11). Trong chuyển dạ, những di chuyển này không chỉ là tuần tự mà còn thể hiện sự trùng lặp thời gian tuyệt vời. Ví dụ, như là một phần của sự gắn kết, có cả sự uốn cong và đi xuống của đầu. Những di chuyển không thể hoàn thành trừ khi phần trình diện xuống cùng một lúc. Đồng thời, các cơn co thắt tử cung ảnh hưởng thay đổi quan trọng trong tư thế của thai nhi, hoặc tổng trạng, đặc biệt là sau khi đầu đã đi xuống vào xương chậu. Những thay đổi này bao gồm chủ yếu làm thai nhi thẳng ra, với việc mất đường lồi của lưng và kéo các phần cơ thể của thai sát gần vào thân. Kết quả là, các hình trứng của thai nhi được chuyển đổi thành một hình trụ, với mặt cắt ngang nhỏ nhất có thể đi qua các ống sinh.
  Figure 22-11 Cardinal movements oflabor and delivery from a left occiput anterior position

 Engagement

The mechanism by which the biparietal diameter—the greatest transverse diameter in an occiput presentation—passes through the pelvic inlet is designated engagement. The fetal head may engage during the last few weeks of pregnancy or not until after labor commencement. In many multiparous and some nulliparous women, the fetal head is freely movable above the pelvic inlet at labor onset. In this circumstance, the head is sometimes referred to as “floating.” A normal-sized head usually does not engage with its sagittal suture directed anteroposteriorly. Instead, the fetal head usually enters the pelvic inlet either transversely or obliquely. Segel and coworkers (2012) analyzed labor in 5341 nulliparous women and found that fetal head engagement before labor onset did not affect vaginal delivery rates in either spontaneous or induced labor.

 Lọt

Cơ chế mà đường kính lưỡng đỉnh – đường kính ngang lớn nhất trong ngôi chỏm -đi mặt phẳng eo trên (pelvic inlet) được gọi là lọt . Đầu của thai nhi có thể lọt trong vài tuần cuối của thai kỳ hay không cho đến sau khi bắt đầu chuyển dạ. Ở phụ nữ nhiều con và một số chưa có con, đầu của thai nhi tự do di chuyển trên đường vào khung chậu lúc bắt đầu chuyển dạ. Trong trường hợp này, đầu đôi khi được gọi là “nổi”. Một đầu  có kích thước bình thường thường không lọt với đường liên thóp theo hướng trước sau. Thay vào đó, đầu của thai nhi thường đi vào đầu vào chậu hoặc nằm ngang hoặc chéo. Segel và đồng nghiệp (2012) đã phân tích chuyển dạ trong 5341 phụ nữ chưa có con và thấy rằng thai nhi đầu lọt trước khi bắt đầu chuyển dạ không ảnh hưởng đến tỷ lệ sinh ngã âm đạo trong hoặc chuyển dạ tự phát hay nhân tạo.

 Asynclitism. The fetal head tends to accommodate to the transverse axis of the pelvic inlet, whereas the sagittal suture, while remaining parallel to that axis, may not lie exactly midway between the symphysis and the sacral promontory. The sagittal suture frequently is deflected either posteriorly toward the promontory or anteriorly toward the symphysis (Fig. 22-12). Such lateral deflection to a more anterior or posterior position in the pelvis is called asynclitism. If the sagittal suture approaches the sacral promontory, more of the anterior parietal bone presents it self to the examining fingers, and the condition is called anterior asynclitism. If, however, the sagittal suture lies close to the symphysis, more of the posterior parietal bone will present, and the condition is called posterior asynclitism. With extreme posterior asynclitism, the posterior ear may be easily palpated.  Sự lọt nghiêng (Asynclitism). Phần đầu của thai nhi có xu hướng xoay trục ngang của đầu vào mặt phẳng eo trên, trong khi đường liên thóp, lại song song với trục đó, không thể nói  chính xác trục của thai giữa khớp vệ và xương cùng. Các đường liên thóp, thường xuyên bị lệch ra phía sau về phía mỏm nhổ hoặc về phía trước hướng về phía khớp vệ (Hình. 22-12). Sư lệch bên này đến một vị trí phía trước  hoặc sau nhiều hơn trong xương chậu được gọi là asynclitism. Nếu tiếp cận mỏm nhô xương cùng, khám âm đạo các ngón tay sẽ sờ thấy xương đỉnh phía trước, và tình trạng này được gọi là asynclitism trước. Tuy nhiên, nếu các đường liên thóp nằm gần với khớp vệ, khi đó xương đỉnh phía sau sẽ trình diện nhiều hơn , và tình trạng này được gọi là asynclitism sau. Khi asynclitism sau quá lớn, tai sau có thể dễ dàng sờ thấy.
  FIGURE 22-12 Synclitism and asynclitism.  Hình 22-12 lọt thẳng và lọt nghiêng

 Descent

This movement is the first requisite for birth of the newborn. In nulliparas, engagement may take place before the onset of labor, and further descent may not follow until the onset of the second stage. In multiparas, descent usually begins with engagement. Descent is brought about by one or more of four forces: (1) pressure of the amnionic fluid, (2) direct pressure of the fundus upon the breech with contractions, (3) bearing-down efforts of maternal abdominal muscles, and (4) extension and straightening of the fetal body.

 Xuống

Sự di chuyển này là điều kiện tiên quyết cho việc sinh nở của trẻ sơ sinh. Ở người nhiều con, lọt có thể diễn ra trước khi bắt đầu chuyển dạ, và sau đó là xuống có thể không theo sau cho đến khi bắt đầu giai đoạn thứ hai. Ở người con so, xuống thường bắt đầu với lọt. Xuống được thúc đẩy bởi một hoặc nhiều hơn bốn lực sau: (1) Áp suất của nước ối, (2) áp lực trực tiếp của đáy vào phần mông co thắt, (3) lực đẩy xuống của cơ bụng mẹ, và (4 ) sự mở rộng và duỗi thẳng của cơ thể thai nhi .

 Flexion

As soon as the descending head meets resistance, whether from the cervix, pelvic walls, or pelvic floor, it normally flexes. With this movement, the chin is brought into more intimate contact with the fetal thorax, and the appreciably shorter suboccipitobregmatic diameter is substituted for the longer occipitofrontal diameter (Figs. 22-13 and 22-14)

 Sự cúi

Ngay sau khi phần đầu giảm dần đáp ứng kháng, cho dù từ cổ tử cung, tường chậu, hoặc sàn chậu, nó thường cúi xuống. Với sự biến chuyển này, cằm được đưa vào tiếp xúc gần hơn với ngực của thai nhi, và đường kính hạ chẩm thóp trước (suboccipitobregmatic) trở nên ngắn hơn sẽ thay thế cho đường kính dài hơn chẩm trán ( occipitofrontal )  (Figs. 22-13 và 22-14)

 FIGURE 22-13 Lever action produces flexion of the head. Conversion from occipitofrontal to suboccipitobregmatic diameter typically reduces the anteroposterior diameter from nearly 12 to 9.5 cm.  Hình 22-13 Mức độ cúi của đầu . Chuyển giữa đường kính chẩm trán về đường kính hạ chẩm thóp trước , giảm đường kính trước sau từ 12 về còn 9,5 cm.
 FIGURE 22-14 Four degrees of head flexion. The solid line represents the occipitomental diameter, whereas the broken line connects the center of the anterior fontanel with the posterior fontanel. A. Flexion poor. B. Flexion moderate. C. Flexion advanced. D. Flexion complete. Note that with complete flexion, the chin is on the chest. The suboccipitobregmatic diameter, the shortest anteroposterior diameter of the fetal head, is passing through the pelvic inlet.  Hình 22-14 Bốn độ cúi của đầu . Đường kẻ liền biểu thị cho đường kính chẩm cằm (occipitomental) , đường kẻ đứt đoạn nối giữa thóp trước và thóp sau.  A . Cúi ít  B Cúi trung bình C. Cúi tốt D. Cúi tối đa. Chú ý khi cúi tốt đa cằm sữ chạm vào ngực.  Đường kính hạ chẩm thóp trước , đường kính nhỏ nhất của đầu thai sẽ đi vào mặt phẳng eo trên.

 

 Internal Rotation

This movement consists of a turning of the head in such a manner that the occiput gradually moves toward the symphysis pubis anteriorly from its original position or, less commonly, posteriorly toward the hollow of the sacrum (Figs. 22-15 to 22-17). Internal rotation is essential for completion oflabor, except when the fetus is unusually small.

 Xoay trong

Chuyển động này bao gồm một khúc cua của phần đầu trong một cách mà phần chẩm dần dần di chuyển về phía khớp vệ về trước vị trí ban đầu của nó hoặc trong trường hợp ít gặp hơn,nó xoay về phía sau phía rỗng của xương cùng (Figs. 22-15 đến 22-17) . Xoay trong là rất cần thiết để hoàn thành chuyển dạ, trừ khi thai nhi nhỏ một cách bất thường.

 FIGURE 22-15 Mechanism of labor for the left occiput transverse position, lateral view. A. Engagement. B. After engagement, further descent. C. Descent and initial internal rotation. D. Rotation and extension.  Hình 22-15 Cơ chế chuyển dạ cho ngôi thế chẩm trái ngang , nhìn từ phía bên. A Lọt . B Sau khi lọt , Bắt đầu xuống , C. Xuống và xoay trong D. Xoay và sổ
  FIGURE 22-16 Mechanism of labor for left occiput anterior position
  FIGURE 22-17 Mechanism of labor for right occiput posterior position showing anterior rotation  Hình 22-17 Cơ chế chuyển dạ cho chẩm phải sau trình diễn sự xoay ra trước
 Calkins (1939) studied more than 5000 women in labor to ascertain the time of internal rotation. He concluded that in approximately two thirds, internal rotation is completed by the time the head reaches the pelvic floor; in about another fourth, internal rotation is completed shortly after the head reaches the pelvic floor; and in the remaining 5 percent, rotation does not take place. When the head fails to turn until reaching the pelvic floor, it typically rotates during the next one or two contractions in multiparas. In nulliparas, rotation usually occurs during the next three to five contractions.  Calkins (1939) đã nghiên cứu hơn 5.000 phụ nữ trong chuyển dạ để xác định thời gian xoay trong. Ông kết luận rằng trong khoảng hai phần ba, quá trình xoay trong được hoàn thành trong thời gian đầu  đi vào đến đến sàn chậu; trong khoảng một thứ tư,quá trình xoay trong được hoàn thành trong một thời gian ngắn sau khi phần đầu đi đến sàn chậu; và còn lại 5 phần trăm, xoay trong không diễn ra. Khi đầu chưa xoay cho đến khi đến sàn chậu, nó thường quay trong một hoặc hai cơn co tiếp theo ở người nhiều con. Trong khi ở người con so, xoay trong thường xảy ra trong 3-5 cơn co tiếp theo.

 Extension

After internal rotation, the sharply flexed head reaches the vulva and undergoes extension. If the sharply flexed head, on reaching the pelvic floor, did not extend but was driven farther downward, it would impinge on the posterior portion of the perineum and would eventually be forced through the perineal tissues. When the head presses on the pelvic floor, however, two forces come into play. The first force, exerted by the uterus, acts more posteriorly, and the second, supplied by the resistant pelvic floor and the symphysis, acts more anteriorly. The resultant vector is in the direction of the vulvar opening, thereby causing head extension. This brings the base of the occiput into direct contact with the inferior margin of the symphysis pubis (see Fig. 22-16)

 Sự sổ thai

Sau khi xoay trong, phần đầu sẽ cúi mạnh đến âm hộ và trải qua quá trình sổ thai. Nếu phần đầu cúi mạnh, khi về đến sàn chậu, không sổ ra nhưng bị đẩy xa hơn xuống phía dưới, nó sẽ đụng chạm đến phần sau của đáy chậu và sẽ dần dần bị buộc phải đẩy ra qua các mô vùng tầng sinh môn. Khi đầu ép trên sàn chậu, sẽ có hai lực tác độc vào. Lực đầu tiên, tạo ra do tử cung, đẩy đầu phía sau hơn, và lực thứ hai, được cung cấp bởi các sàn chậu và khớp vệ kháng lại lực thứ nhất, điều này làm cho đầu hướng nhiều hơn về phía trước. Các vector tổng hợp của 2 lực này hướng theo hướng mở âm hộ, do đó làm đầu sổ ra ngoài. Điều này mang đến cho các cơ sở của chỏm đầu tiếp xúc trực tiếp với biên độ thấp kém của xương mu khớp vệ (xem hình. 22-16)

 With progressive distention of the perineum and vaginal opening, an increasingly larger portion of the occiput gradually appears. The head is born as the occiput, bregma, forehead, nose, mouth, and finally the chin pass successively over the anterior margin of the perineum (see Fig. 22-17). Immediately after its delivery, the head drops downward so that the chin lies over the maternal anus.  Với sự tiến triển của việc mở đáy chậu và âm đạo, một phần ngày càng lớn hơn của chỏm đầu dần dần xuất hiện. Phần đầu được sinh ra bắt đầu từ xương chẩm, thóp, trán, mũi, miệng, và cuối cùng là cằm vượt qua bờ dưới của đáy chậu (xem hình. 22-17). Ngay lập tức sau khi sổ thai, phần đầu hướng xuống dưới sao cho cằm hướng về hậu môn mẹ.

 External Rotation

The delivered head next undergoes restitution (see Fig. 22-11). If the occiput was originally directed toward the left, it rotates toward the left ischial tuberosity. If it was originally directed toward the right, the occiput rotates to the right. Restitution of the head to the oblique position is followed by external rotation completion to the transverse position. This movement corresponds to rotation of the fetal body and serves to bring its bisacromial diameter into relation with the anteroposterior diameter of the pelvic outlet. Thus, one shoulder is anterior behind the symphysis and the other is posterior. This movement apparently is brought about by the same pelvic factors that produced internal rotation ofthe head.

 Xoay ngoài

Phần đầu sổ ra trải qua sự hoàn lại vị trí ban đầu (xem hình. 22-11). Nếu chỏm đầu ban đầu hướng về bên trái, nó sẽ quay về phía lồi củ trái xương châu. Nếu nó ban đầu hướng về bên phải, chỏm đầu quay sang bên phải. Sự hoàn lại vị trí ban đầu của phần đầu đến vị trí xiên theo là hoàn thành xoay bên ngoài đến vị trí ngang. chuyển động này tương ứng với vòng quay của cơ thể thai nhi và sẽ mang đường kính lưỡng đỉnh của nó vào trùng với đường kính trước sau của xương chậu. Như vậy, một bên vai là trước phía sau khớp vệ và khác là sau. chuyển động này dường như được mang về bởi các yếu tố vùng chậu giống như sản xuất xoay nội bộ of the đầu.

 Expulsion

Almost immediately after external rotation, the anterior shoulder appears under the symphysis pubis, and the perineum soon becomes distended by the posterior shoulder. After delivery of the shoulders, the rest of the body quickly passes.

Trục xuất

Gần như ngay lập tức sau khi xoay bên ngoài, các vai trước xuất hiện dưới xương mu khớp vệ, và đáy chậu sớm trở nên căng phồng bởi những vai sau. Sau khi sổ vai, phần còn lại của cơ thể sẽ đi ra một cách nhanh chóng.

 Occiput Posterior Presentation

In approximately 20 percent of labors, the fetus enters the pelvis in an occiput posterior (OP) position (Caldwell, 1934). The right occiput posterior (ROP) is slightly more common than the left (LOP). It appears likely from radiographic evidence that posterior positions are more often associated with a narrow forepelvis. They also are more commonly seen in association with anterior placentation (Gardberg, 1994a).

 Ngôi chẩm sau

Trong khoảng 20 phần trăm chuyển dạ, thai nhi vào xương chậu ở một vị trí chẩm đầu sau (OP)(Caldwell, 1934). Hậu chẩm bên phải (ROP) là hơi phổ biến hơn so với bên trái (LOP). Nó xuất hiện có khả năng từ bằng chứng X quang mà các vị trí sau được thường gắn liền với một hẹp khung chậu. Nó cũng thường thấy kèm theo nhau tiền đạo (Gardberg, 1994a).

  In most occiput posterior presentations, the mechanism of labor is identical to that observed in the transverse and anterior varieties, except that the occiput has to internally rotate to the symphysis pubis through 135 degrees, instead of90 and 45 degrees, respectively (see Fig. 22-17).  Trong hầu hết các ngôi chẩm sau, cơ chế của chuyển dạ là giống hệt như quan sát thấy trong ngôi ngang và phía trước, ngoại trừ chỏm đầu có để nội xoay đến xương mu khớp vệ thông qua 135 độ, thay vì 90 và 45 độ, tương ứng (xem hình. 22 -17).
Effective contractions, adequate head flexion, and average fetal size together permit most posteriorly positioned occiputs to rotate promptly as soon as they reach the pelvic floor, and labor is not lengthened appreciably. In perhaps 5 to 10 percent of cases, however, rotation may be incomplete or may not take place at all, especially if the fetus is large (Gardberg, 1994b). Poor contractions, faulty head flexion, or epidural analgesia, which diminishes abdominal muscular pushing and relaxes pelvic floor muscles, may predispose to incomplete rotation. If rotation is incomplete, transverse arrest may result. Ifno rotation toward the symphysis takes place, the occiput may remain in the direct occiput posterior position, a condition known as persistent occiput posterior. Both persistent occiput posterior and transverse arrest represent deviations from the normal mechanisms of labor and are considered further in Chapter 23. Co hiệu quả, đầu cúi tốt, và kích thước của thai nhi trung bình với hậu chẩm xoay kịp thời ngay khi đến sàn chậu, và chuyển dạ sẽ không kéo dài. Trong khoảng 5 đến 10 phần trăm các trường hợp, tuy nhiên, xoay có thể không đầy đủ hoặc có thể không diễn ra ở tất cả các trường hợp , đặc biệt là nếu thai nhi là rất lớn (Gardberg, 1994b). Cơn gò kém , đầu cúi không tốt, hoặc gây tê ngoài màng cứng, làm giảm cơ bụng và cơ bắp sàn khung chậu, có thể ảnh hưởng đến động tác xoay đầy đủ. Nếu vòng xoay là không đầy đủ, bắt ngang có thể dẫn đến. Nếu đầu không xoay về phía xương vệ, chỏm đầu có thể vẫn còn ở vị trí phía sau vị trí đúng chỏm đầu , một tình trạng gọi là sau chỏm đầu dai dẳng. Cả hai sau chỏm đầu dai dẳng và bắt giữ ngang đại diện cho sự chênh lệch từ cơ chế bình thường của lao động và được xem xét tiếp ở chương 23.

 Fetal Head Shape Changes

Caput Succedaneum

In vertex presentations, labor forces alter fetal head shape. In prolonged labors before complete cervical dilatation, the portion of the fetal scalp immediately over the cervical os becomes edematous (Fig. 33-1, p. 647). This swelling, known as the caput succedaneum, is shown in Figures 22-18 and 22-19. It usually attains a thickness of only a few millimeters, but in prolonged labors it may be sufficiently extensive to prevent differentiation of the various sutures and fontanels. More commonly, the caput is formed when the head is in the lower portion of the birth canal and frequently only after the resistance of a rigid vaginal outlet is encountered. Because it develops over the most dependent area of the head, one may deduce the original fetal head position by noting the location of the caput succedaneum.

 Thai nhi thay đổi hình dạng đầu

Bướu huyết thanh

Trong ngôi chỏm, lực của chuyển dạ làm thay đổi hình dạng đầu của thai nhi. Trong chuyển dạ kéo dài trước khi mở cổ tử cung hoàn toàn, phần da đầu thai nhi đi qua lỗ cổ tử cung trở nên phù nề (Hình. 33-1, p. 647). Phần sưng này, được gọi là bướu huyết thanh, được hiển thị trong hình 22-18 và 22-19. Nó thường đạt độ dày chỉ vài mm, nhưng trong chuyển dạ kéo dài nó có thể là đủ rộng để cản trở các thay đổi của các đường liên thóp và thóp. Thông thường hơn, bướu huyết thanh được hình thành khi đầu là ở phần dưới của ống sinh và thường xuyên chỉ sau khi gặp phải một trở kháng từ lớp của âm đạo. Bởi vì nó phát triển trong khu vực lỏng lẻo nhiều nhất của đầu, người ta có thể suy ra các vị trí gốc của đầu của thai nhi bằng cách ghi nhận vị trí của bướu huyết thanh.

 Molding

In addition to soft tissue changes, the bony fetal head shape is also altered by external compressive forces and is referred to as molding (see Fig. 22-19). Possibly related to Braxton Hicks contractions, some molding develops before labor. Most studies indicate that there is seldom overlapping of the parietal bones. A “locking” mechanism at the coronal and lambdoidal connections actually prevents such overlapping (Carlan, 1991). Molding results in a shortened suboccipitobregmatic diameter and a lengthened mentovertical diameter. These changes are of greatest importance in women with contracted pelves or asynclitic presentations. In these circumstances, the degree to which the head is capable of molding may make the difference between spontaneous vaginal delivery and an operative delivery. Some older literature cited severe head molding as a cause for possible cerebral trauma. Because of the multitude of associated factors, for example, prolonged labor with fetal sepsis and acidosis, it is impossible to link molding to any alleged fetal or neonatal neurological sequelae. Most cases of molding resolve within the week following delivery, although persistent cases have been described (Graham, 2006)

 Uốn khuôn

Ngoài những thay đổi mô mềm, đầu hình thành thai nhi xương cũng bị thay đổi bởi lực nén bên ngoài và được gọi là uốn khuôn (xem hình. 22-19). Có thể liên quan đến các cơn co thắt Braxton Hicks, một số dạng khuôn phát triển trước khi chuyển dạ. Hầu hết các nghiên cứu chỉ ra rằng có một ít sự chồng chéo của xương đỉnh. Một cơ chế “khóa” vào các kết nối coronal và lambdoidal thực sự ngăn cản chồng chéo như vậy (Carlan, 1991). Sự uốn khuôn này dẫn đến một trong đường kính hạ chẩm thóp trước rút ngắn và đường kính chẩm cằm kéo dài. Những thay đổi này có tầm quan trọng lớn nhất ở phụ nữ với khung chậu giới hạn hay  ngôi thai bất đối xứng. Trong những trường hợp này, mức độ uốn khuôn của đầu có thể tạo sự khác biệt giữa sinh ngã âm đạo tự nhiên và đẻ mổ. Một số tài liệu cũ trích dẫn uốn khuôn đầu nghiêm trọng là một nguyên nhân có thể chấn thương não. Bởi vì của vô số các yếu tố liên quan, ví dụ, chuyển dạ kéo dài với nhiễm trùng bào thai và nhiễm toan, nó là không thể kết nối với bất kỳ di chứng thần kinh của thai nhi và trẻ sơ sinh. Hầu hết các trường hợp uốn khuôn đều giải quyết trong vòng một tuần sau đẻ, mặc dù trường hợp dai dẳng đã được mô tả (Graham, 2006)