Giải phẫu vòi trứng

Gồm hai ống ở hai bên sừng tử cung dẫn trứng từ buồng trứng tới buồng tử cung. vòi trứng nằm trong bờ trên của dây chằng rộng tử cung, một đầu mở vào góc trên buồng tử cung, đầu kia mở vào ổ phúc mạc và liên quan chặt chẽ với buồng trứng. Thường trứng được thụ tinh trong vòi rồi mới vào làm tổ trong buồng tử cung. Nếu vì lý do nào đó, trứng thụ tinh không vào buồng tử cung mà phát triển ở trong vòi trứng hoặc trong ổ phúc mạc thì gọi là chửa ngoài tử cung (Hình 27.2).

1. Hình thể ngoài

vòi trứng dài 10 — 12cm, chia làm 4 đoạn:

a) Loa vòi trứng (infundibulum tubae uterinae)

Là phần ngoài cùng của vòi, loe ra như một cái phễu dài độ 7 — 8mm.

Mặt trong hay mặt trục úp lên mặt trong buồng trứng; ở giữa có một lỗ gọi là lỗ bụng của vòi trứng (ostium abdominale tubae uterinae), thông với ổ phúc mạc; xung quanh có khoảng 1 0 – 1 2 tua, gọi là các tua vòi (fimbriae tubae), mỗi tua dài độ 1 — l,5cm trong đó tua dài nhất gọi là tua buồng trứng (fimbria ovarica).

Mặt trong của các tua vòi được phủ bởi một màng niêm mạc có các nếp dọc, liên tiếp với các nếp của niêm mạc phủ mặt trong loa vòi.

b) Bóng vòi trứng (ampulla tubae uterinae)

Bóng vòi là phần dài nhất và phình to nhất của vòi trứng. Bóng vòi dài 7 – 8cm, đường kính khoảng 7 — 8mm.

Bóng vòi liên tiếp với eo vòi tạo thành một góc vuông, chạy theo bờ mạc treo của buồng trứng ôm lấy buồng trứng rồi liên tiếp với phễu vòi.

c) Eo vòi trứng (isthmus tubae uterinae)

Là đoạn hẹp nhất của vòi trứng, dài 3 — 4cm, đường kính khoảng 3 — 4mm, tiếp theo bóng vòi đến góc bên của tử cung ở phía sau và trên dây chằng tròn, phía trước trên dây chằng riêng buồng trứng.

d) Phần tử cung (pars uterina) hay đoạn kẽ vòi trứng

Phẩn này nằm trong thành tử cung, từ góc bên tử cung chạy chếch xuông dưới, vào trong và mở thông vào buồng tử cung bởi một lỗ gọi là lỗ tử cung của vòi (ostium uterinum tubae).

Phần tử cung dài khoảng lcm, đường kính trong khoảng 5mm.

2. Hình thể trong và cấu tạo

Vòi trứng được cấu tạo bởi 4 lớp, từ ngoài vào trong gồm:

– Áo thanh mạc (tunica serosa) là phúc mạc của dây chằng rộng.

– Tấm dưới thanh mạc (tela subserosa).

– Áo cơ (tunica muscularis) gồm các thớ cơ dọc ở ngoài, các thớ cơ vòng ở trong liên tiếp với các lớp cơ dọc và cơ vòng của tử cung.

– Áo niêm mạc (tunica mucosa) có những nếp vòi (plicae tubariae), song song với trục của vòi; ở bóng vòi có nhiều nếp lan ra tới tua vòi. Thượng mô của niêm mạc vòi trứng có nhiều lông chuyển và chỉ chuyển động theo một chiều để đẩy trứng vào buồng tử cung.

3. Mạc treo và dây chằng

Mạc treo vòi trứng (mesosalpinx) là cánh trên của dây chằng rộng rất mỏng hình tam giác. Đỉnh ở góc tử cung, nền là dây chằng vòi buồng trứng (có tua buồng trứng dính vào), cạnh trên là vòi trứng. Cạnh dưới là đường bám của mạc treo buồng trứng vào dây chằng rộng.

Ngoài ra còn dây chằng riêng buồng trứng và dây chằng vòi buồng trứng.

4. Mạch và thần kinh

a) Động mạch:

Là những nhánh vòi trứng của động mạch buồng trứng và động mạch tử cung. Hai nhánh này chạy dọc theo bờ dưới của vòi trứng, giữa hai lá của mạc treo vòi trứng và tiếp nối với nhau.

b) Tĩnh mạch:

Đi kèm động mạch, đổ vào các tĩnh mạch buồng trứng và tử cung.

c) Bạch mạch:

Chạy vào bạch mạch của buồng trứng.

d) Thần kinh:

Gồm những nhánh tách từ đám rối liên mạc treo tràng (plexus intermesentericus) chạy xuống qua đám rối động mạch buồng trứng và từ đám rối hạ vị (plexus hypogastricus) qua đám rối của động mạch tử cung (Hình 27.3).

Tài liệu tham khảo

Trịnh Văn Minh (2010) , ” Giải phẫu cơ quan sinh dục nữ ”  , sách Giải phẫu học người tập 2 , Nhà xuất bản giáo dục việt nam

Câu hỏi ôn tập

1 Vòi trứng gồm mấy đoạn , đoạn nào dài nhất

2 Vòi trứng có được phủ bới phúc mạc không

3 Động mạch nuôi vòi trứng xuất phát từ đâu