Biến chứng của việc mổ lấy thai nhiều lần

COMPLICATIONS WITH MULTIPLE REPEAT CESAREAN DELIVERIES

Because of the concerns with attempting a trial of labor—even in the woman with excellent criteria that forecast successful VBAC—most women in the United States undergo elective repeat cesarean delivery. This choice is not without several significant maternal complications, and rates of these increase in women who have multiple repeat operations. The incidences of some common complications for women with one prior transverse cesarean delivery who undergo an elective repeat cesarean delivery were shown in Table 31-2. Finally, half of cesarean hysterectomies done at Parkland Hospital are in women with one or more prior cesarean deliveries (Hernandez, 2013). Bởi vì những mối quan tâm với một cố gắng thử nghiệm của chuyển dạ ngay cả trong những người phụ nữ với tiêu chí tuyệt vời mà dự báo thành công VBAC-hầu hết phụ nữ ở Mỹ trải qua lặp lại chọn sinh mổ. Sự lựa chọn này là không phải không có nhiều biến chứng nặng ở mẹ, và giá của những gia tăng ở những phụ nữ có nhiều hoạt động lặp lại. Tỷ lệ mắc của một số biến chứng thường gặp đối với phụ nữ với một trước khi mổ lấy thai ngang người trải qua một tự chọn lặp lại mổ lấy thai đã được thể hiện trong Bảng 31-2. Cuối cùng, một nửa cắt tử cung mổ được thực hiện tại bệnh viện Parkland là phụ nữ với một hoặc nhiều giao mổ lấy thai trước (Hernandez, 2013).
The Network addressed issues of increased morbidity in a cohort of 30,132 women who had from one to six repeat cesarean deliveries (Silver, 2006). This report addressed a list of morbidities, most of which increased as a trend with increasing number of repeat operations. The rates of some of the more common or serious complications are depicted in Figure 31-5. Mạng giải quyết các vấn đề của tăng tỷ lệ mắc bệnh trong một quần thể của 30.132 phụ nữ đã có từ một đến sáu giao mổ lấy thai lặp lại (Silver, 2006). Báo cáo này đề cập một danh sách các bệnh kèm theo, hầu hết trong số đó tăng lên như một xu hướng ngày càng tăng số lượng các hoạt động lặp lại. Các mức giá của một số trong những biến chứng phổ biến hơn hoặc nghiêm trọng được mô tả trong hình 31-5.
In addition to the ones shown, rates of bowel or bladder injury, admission to an intensive care unit or ventilator therapy, and maternal mortality, as well as operative and hospitalization length, showed significantly increasing trends. Similar results have been reported by others (Nisenblat, 2006; Usta, 2005). More difficult to quantify are risks for bowel obstructions and pelvic pain from peritoneal adhesive disease, both of which increase with each successive cesarean delivery (Andolf, 2010; Mankuta, 2013). Ngoài những người thể hiện, tỷ lệ ruột hoặc bàng quang chấn thương, nhập học vào một đơn vị chuyên sâu chăm sóc hoặc điều trị thở máy, và tỷ lệ tử vong bà mẹ, cũng như chiều dài tác và nhập viện, cho thấy tăng đáng kể xu hướng. Kết quả tương tự đã được báo cáo bởi những người khác (Nisenblat, 2006; Usta, 2005). Nhiều khó để định lượng những rủi ro đối với các vật cản ruột và đau vùng chậu bệnh dính phúc mạc, cả hai đều tăng với từng mổ lấy thai liên tiếp (Andolf, 2010; Mankuta, 2013).
FIGURE 31-5 Maternal-Fetal Medicine Units Network: rates ofsome complications with increasing number ofrepeat cesarean deliveries. (Data from Silver, 2006.) Hình 31-5 bà mẹ-thai nhi Y đơn vị mạng: giá của một số biến chứng với sự gia tăng số sinh mổ lấy thai lặp lại. (Dữ liệu từ Silver, 2006.)
Cook and colleagues (2013) from the United Kingdom Obstetric Surveillance System (UKOSS) described adverse sequelae of women with multiple cesarean deliveries. Outcomes of those undergoing a fifth or greater operation were compared with those from women having a second through fourth procedure. Cook và các cộng sự (2013) từ Vương quốc Anh sản khoa Hệ thống giám sát (UKOSS) mô tả các di chứng xấu của phụ nữ với nhiều giao mổ lấy thai. Kết quả của những trải qua một hoạt động thứ năm hoặc lớn hơn được so sánh với những người từ các phụ nữ có một thứ hai thông qua thủ tục thứ tư.
Those having five or more cesarean deliveries had significantly increased rates ofmorbidity compared with rates in women having fewer than five procedures. Specifically, the major hemorrhage rate increased 18-fold; visceral damage, 17-fold; critical care admissions, 15- fold; and delivery < 37 weeks, sixfold Những người có năm hoặc nhiều hơn giao mổ đã tăng đáng kể tỷ lệ mắc bệnh so với tỷ lệ ở phụ nữ có ít hơn năm thủ tục. Cụ thể, tỷ lệ xuất huyết lớn đã tăng 18 lần; thiệt hại nội tạng, gấp 17 lần; tuyển sinh chăm sóc quan trọng, 15- gấp; và giao hàng <37 tuần, gấp sáu lần
Much of this morbidity was in the 18 percent who had placenta previa or accrete syndromes (Chap. 41, p. 799). A percreta may invade the bladder or other adjacent structures. With this, difficult resection carries an inordinately high risk of hysterectomy, massive hemorrhage with transfusion, and maternal mortality. Phần lớn các bệnh lý này là trong 18 phần trăm những người đã có nhau thai tiền đạo hoặc lớn lên hội chứng (Chap. 41, tr. 799). Một percreta có thể xâm nhập vào bàng quang hay các cấu trúc lân cận khác. Với điều này, cắt bỏ khó khăn mang một nguy cơ inordinately cao cắt bỏ tử cung, xuất huyết lớn với truyền máu, và tử vong mẹ.